Cơ sở để ghi giảm tiền gửi từ tài khoản là bản sao kê nhận được từ ngân hàng. Để ghi nhận nghiệp vụ nộp tiền vào tài khoản ngân hàng và chuyển khoản từ tài khoản đó của doanh nghiệp, có sử dụng nhật ký Bản sao kê ngân hàng.

Trong nhật ký chỉ ra danh sách các chứng từ thu và chi tiền gửi do người sử dụng đã nhập.

 

Trong phần bảng nhật ký hiển thị số dư và bản ghi theo tài khoản tiền gửi đã chọn vào ngày cụ thể. Có thể tiến hành lọc nhanh theo các mục tin.

Thu và chi tiền gửi có thể được hiển thị trong nhật ký một cách tự động bằng cách kết nhập dữ liệu từ chương trình Internet-banking. Ngoài ra, người sử dụng có thể phản ánh thủ công việc thu và chi tiền gửi.

Để lập biểu mẫu in của uỷ nhiệm thanh toán, cũng như chuẩn bị thông tin để kết nhập dữ liệu vào chương trình Internet-banking sử dụng chứng từ Uỷ nhiệm thanh toán. Nếu uỷ nhiệm thanh toán được lập để chuyển khoản thuế thì cần xem xét chế độ đơn giản hoá việc điền – có thể điền tự động phần bảng chứng từ dựa trên cơ sở khuôn mẫu.

 

Chứng từ Uỷ nhiệm chi để  nộp thuế vào ngân sách và quỹ bảo hiểm có thể được lập tự động dựa trên số dư theo các tiểu khoản của tài khoản 333 "Thuế và các khoản phải nộp nhà nước", tài khoản 3383 "Bảo hiểm xã hội", 3384 "Bảo hiểm y tế" và 3389 "Bảo hiểm thất nghiệp".

Để trao đổi thông tin với các ngân hàng theo kênh điện tử, có sử dụng chương trình chuyên biệt Internet-banking. Phần mềm này cho phép:

  • lập chứng từ thanh toán trong cơ sở thông tin, sau đó kết xuất chúng vào chương trình Internet-banking để chuyển về ngân hàng theo kênh điện tử;

  • kết nhập vào cơ sở dữ liệu từ chương trình Internet-banking thông tin về giao dịch nhận được từ ngân hàng theo tài khoản của doanh nghiệp.

Trao đổi dữ liệu giữa cấu hình và chương trình Internet-banking được thực hiện thông qua tệp trao đổi có định dạng đặc biệt.